Vòng đời của muỗi truyền bệnh

Muỗi là trung gian truyền bệnh quan trọng của nhiều loại bệnh ở vùng nhiệt đới, phổ biến là bệnh sốt rét, giun chỉ bạch huyết và những bệnh do virus như sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, sốt vàng.

Các biện pháp phòng, chống muỗi chú trọng vào một hoặc vài loài muỗi quan trọng nhất có vai trò truyền bệnh. Dựa vào vòng đời sinh trưởng của muỗi, các biện pháp can thiệp thường tác động vào giai đoạn muỗi trưởng thành hay giai đoạn ấu trùng.

Vòng đời của muỗi

Muỗi có bốn giai đoạn phát triển rõ ràng trong vòng đời của chúng bao gồm trứng, bọ gậy, cung quăng và muỗi trưởng thành. Trứng muỗi đẻ nổi trên mặt nước, trứng nở thành bọ gậy nằm ở dưới nước nhưng lấy không khí trên mặt nước qua ống thở, bọ gậy phát triển thành cung quăng cũng nằm dưới nước và lấy không khí trên mặt nước, cung quăng lột xác để thành muỗi trưởng thành không ở dưới nước mà thoát lên trên mặt nước. Muỗi cái thường chỉ giao phối một lần nhưng có thể đẻ trứng suốt đời theo từng đợt. Để thực hiện được việc đẻ trứng, phần lớn muỗi cái cần phải đốt máu người hoặc động vật. Muỗi đực không đốt máu như muỗi cái, chúng chỉ hút các loại nhựa cây để tự nuôi dưỡng. Sau khi đốt no máu, muỗi cái tìm nơi trú đậu kín đáo, an toàn để tiêu máu và phát triển trứng. Ở vùng có khí hậu nhiệt đới, thời gian này cần khoảng từ 2 đến 3 ngày; còn ở vùng có khí hậu ôn hoà thì thời gian này sẽ lâu hơn. Muỗi cái khi đã mang trứng, chúng bay đi tìm các nơi thích hợp để sinh đẻ. Sau đó lại tiếp tục tìm mồi để đốt máu và đẻ một lứa trứng khác. Chu trình này cứ lặp đi lặp lại cho tới khi muỗi chết.

Một số đặc điểm trong vòng đời của các loài muỗi

Tuỳ theo từng loài muỗi, muỗi cái có thể đẻ từ 30 đến 300 trứng mỗi lần. Nhiều loài đẻ trứng trực tiếp trên mặt nước, có thể từng cái trứng một riêng biệt, kết thành chuỗi (như loài Aedes, Anopheles) hoặc kết dính với nhau thành bè (như loài Culex). Ở vùng có khí hậu nhiệt đới, trứng thường nở từ sau 2 đến 3 ngày. Một số loài muỗi như Aedes đẻ trứng ngay cạnh thành mặt nước hoặc nơi bùn ướt, số trứng này chỉ nở khi bị ngập nước. Ở môi trường khô, trứng có thể sống được nhiều tuần.

Sau khi trứng nở thành bọ gậy, bọ gậy không phát triển liên tục mà trải qua 4 giai đoạn tuổi khác nhau. Ở tuổi Ikích thước bọ gậy khoảng 1,5 mm và ở tuổi IV kích thước bọ gậy khoảng từ 8 đến 10 mm. Mặc dù bọ gậy không có chân nhưng có phần đầu phát triển, thân mình phủ nhiều lông và bơi bằng các chuyển động của cơ thể.

Bọ gậy ăn tảo, vi khuẩn và các vi sinh vật ở trong nước. Phần lớn bọ gậy đều có ống thở nằm ở phần đốt cuối của bụng, qua đó không khí được đưa vào cơ thể và cũng qua ống thở, bọ gậy trồi lên mặt nước để thở. Bình thường bọ gậy lặn sâu xuống dưới đáy nước một thời gian để lấy thức ăn hoặc để tránh nguy hiểm. Bọ gậy loài muỗi Anopheles nằm ngang mặt nước để vừa lấy thức ăn vừa để thở nên chỉ có ống thở thô sơ. Bọ gậy Mansonia không cần trồi lên mặt nước để thở vì loài này có thể lấy không khí bằng cách cắm ống thở vào một loại thực vật thuỷ sinh mà nó hầu như nó luôn luôn gắn vào đó.

Nơi khí hậu ấm áp, chu kỳ bọ gậy khoảng 4 đến 7 ngày hoặc dài hơn nếu thiếu thức ăn. Sau đó bọ gậy phát triển chuyển thành cung quăng có hình dấu phẩy. Cung quăng không ăn và hầu như chỉ ở trên mặt nước. Nếu mặt nước bị khuấy động, nó lặn nhanh xuống đáy nước. Khi cung quăng phát triển đến một độ lớn nhất dịnh, muỗi trưởng thành sẽ nở ra bằng cách chui qua vỏ cung quăng đã được tách ra ở một đầu. Ở vùng khí hậu nhiệt đới, giai đoạn cung quăng kéo dài từ 1 đến 3 ngày. Toàn bộ thời gian từ trứng đến muỗi trưởng thành ở điều kiện khí hậu tốt nhất khoảng từ 7 đến 13 ngày.

Vòng đời của muỗi và biện pháp can thiệp

Căn cứ vào vòng đời sinh trưởng của muỗi, các biện pháp can thiệp thường tác động vào giai đoạn bọ gậy muỗi và giai đoạn muỗi trưởng thành. Các biện pháp can thiệp không tác động vào giai đoạn trứng và giai đoạn cung quăng vì thời gian để trứng nở thành bọ gậy quá ngắn (thường từ 2 đến 3 ngày), thời gian để cung quăng lột xác thành muỗi trưởng thành cũng không dài (thường từ 1 đến 3 ngày).Do đó bọ gậy muỗi và muỗi trưởng thành là hai đối tượng thích hợp được chọn lựa để tác động biện pháp can thiệp nhằm hạ thấp tỷ lệ và mật độ hoạt động của chúng, góp phần làm hạn chế sự phát triển để thực hiện vai trò trung gian truyền bệnh. Để diệt bọ gậy muỗi và muỗi trưởng thành, có nhiều biện pháp can thiệp được ứng dụng. Tuỳ theo tình hình, điều kiện, tập quán sinh hoạt … khác nhau của cộng đồng người dân mà lựa chọn biện pháp phù hợp để mang lại hiệu quả cao.